TƯỞNG NHỚ ÔNG
THOẠI-NGỌC-HẦU
(1762-1829),
MỘT CÔNG THẦN KHAI QUỐC
DƯỚI TRIỀU NGUYỄN
Hàn
(Trích
dẫn tác phẩm Tìm Hiểu Các Danh Nhân của Nguyễn-Phú Thứ)
Để biết tìm
hiểu thêm sơ lược tiểu-sử và thân-thế
sự-nghiệp Ông Thoại-Ngọc-Hầu, xin trích dẫn
như sau :
Được
biết, Ông Nguyễn-Văn-Thoại, sanh năm Tân Tỵ
1761 tại huyện Diên Phước, Tỉnh Quảng Nam,
rồi theo gia-đình lánh nạn vào Nam-Kỳ ở cù lao Dài
trên sông Cổ Chiên, thuộc Tiền Giang ngày nay. Ông có hai con
trai là : Ông Nguyễn-Văn-Lâm con của bà
Châu-Thị-Tế (vợ chánh) và Ông Nguyễn-Văn-Minh con
của bà Trương-Thị-Miệt (vợ thứ). Ông là
công thần của Thánh-Tổ Nguyễn-Phúc-Đảm
(1820-1840) tức vua Minh-Mạng, được phong
chức Hầu, nên từ đó Ông mang tên Thoại-Ngọc-Hầu.
Khoảng đầu thế kỷ 19 Ông được
triều đình tiến cử đi trấn nhậm ở
vùng Vĩnh-Thanh sau trở thành An-Giang đạo có
người nói hạt An-Giang (nơi này tương
đương một quân khu). Vùng Vĩnh-Thanh rộng
lớn bao gồm các Tỉnh : Long-Hồ (Vĩnh-Long),
Trà-Vang (từ Trà-Vinh đến Bến-Tre), Ba-Thắc
(từ Sóc-Trăng đến Bạc-Liêu), Tâm-Phong (từ
Châu-Đốc đến Sa-Đéc), Trấn Giang
(Cần-Thơ). Phía Nam đã có dân cư, đất không
bị ảnh hưởng ngập lụt hằng năm,
bởi vì có các con kinh thoát nước ra sông Cửu Long.
Riêng phía Bắc, dân cư thưa thớt, khó sanh sống,
chỉ trừ Sa-Đéc và Tân-Châu (Châu-Đốc) vì hằng
năm bị ngập lụt. Do vậy, nhà vua nghĩ
đến việc đào kinh, để giao thông thủy
lợi quan trọng từ Châu-Đốc đến Hà Tiên
và chính con kinh này để phòng thủ biên giới
Việt-Miên rất tốt, từ đó Ông
Thoại-Ngọc Hầu phải đứng ra đôn
đốc việc đào kinh từ năm 1819 thật gian
nan, bởi vì nơi này còn rừng rậm, lau sậy
sầm uất, nhiều thú dữ, nên phải huy
động trên 80.000 nhân công và hoàn thành năm 1824. Sau đó,
lấy tên phu nhân của Ông Thoại-Ngọc Hầu là Bà
Châu-Thị-Tế ? (hoặc là Bà Châu-Thị-Vĩnh-Tế
không biết hư thực như thế nào ?) để
đặt cho con kinh, bởi vì bà thuộc dòng họ
Châu-Vĩnh, Bà là con của
Vào năm 1818 Ông
Thoại-Ngọc-Hầu còn cho đào con kinh Thoại Hà,
từ Núi Sập thuộc huyện Thoại-Sơn
đến Hà-Tiên (Rạch-Giá) có chiều dài hơn 30 cây
số và có chiều rộng 50 thước, nghe nói con kinh
này khởi đào trước kinh Vĩnh-Tế? Ngoài ra, Ông
Thoại-Ngọc-Hầu còn cho đắp nhiều con
lộ, ngày nay hầu hết đã mất dấu, chỉ
còn con đường nối liền Châu-Đốc
với Núi Sam được xây dựng trong 2 năm
1826-1827, được đặt tên là "Tân lộ
Kiều Lương" đã tu sửa để
sử-dụng đến ngày nay.
Được
biết, Ông Thoại-Ngọc-Hầu mất năm 1829,
thọ 68 tuổi, là người có công tạo dựng
đời sống người, xem như một vị
khai quốc công thần của triều đình, vì thế
nhà vua cho xây lăng, dựng miếu để thờ
phụng, ngày đêm hương khói nghi ngút tại núi Sam
(Châu-Đốc), người dân nhớ ơn Ông nên gọi
tên
Nếu du khách có dịp
đi thăm Long-Xuyên, nên thưởng thức một
bữa cơm với Canh Chua cá BÔNG LAU với cá RÔ Kho Tộ
béo ngậy và có thì giờ nên ăn thêm mắm kho với rau
thật ngon tuyệt, vì hương vị đậm đà
độc đáo quê-hương mình. Đó là thức ăn
danh tiếng ở Long Xuyên đã được Ông
Tản-Đà Nguyễn-Khắc-Hiếu viết khen tặng
trong bài "Thú Ăn Chơi " của Ông, xin trích dẫn
như sau :
"Thú ăn chơi cũng gọi rằng,
Mà xem chửa
dễ ai bằng thế gian,
Hà tươi cửa bể Tu-Ran,
LONG-XUYÊN chén Mắm,
NGH-AN chén Cà."
Đến
Châu-Đốc chúng ta hồi tưởng lại những
câu ca-dao dân gian Miền Nam, xin trích dẫn như sau :
"Đèn nào cao bằng đèn Châu-Đốc,
Đất nào dốc bằng đất Nam Vang..."
Bởi vì,
Châu-Đốc có những ngọn núi cao nhứt miền
Tây, để du khách chuẩn bị có sức leo núi, xin
mời du khách nên thưởng thức mắm cá Lốc
thái, mắm cá Trèn là đặc-sản có tiếng ngon
đáo để, ăn quên thôi. Rồi bắt đầu
đi thăm trường trung-học Thủ-Khoa-Nghĩa,
Bồ Đề Đạo Tràng ngay trong thị xã, kế
đến đi thăm lăng mộ Ông
Thoại-Ngọc-Hầu và thắng cảnh núi Sam, chưa
đày 6 cây số, khi đến đầu núi này chúng ta
sẽ gặp ChùaTây-An cùng lăng mộ Ông
Thoại-Ngọc-Hầu ở phía bên trái và Chúa-Xứ Thánh
Miếu ở bên mặt. Trước hết, chúng ta
thăm viếng và tìm hiểu Chúa Xứ Thánh Miếu,
miếu này được kiến trúc theo lối Đông
Phương cổ kính, có cổng rất đẹp như
sau :

Cổng
Chúa Xứ Thánh Miếu núi Sam Châu-Đốc Hè 2001
và có mái
cong lợp ngói xanh, tường cẩn gạch tráng men, các
cánh cửa bằng danh mộc được chạm
trổ công phu, lại có hai con sư tử bằng đá
với thế ngồi canh giữ thật uy nghi.
Được
biết, miếu Bà được trùng tu lại vào năm
1973, do kiến trúc sư Huỳnh -Kim -Mãng thiết kế, bởi
vì theo tài liệu khoảng năm 1825 đã cất miếu
bằng tre, mái lợp bằng lá đơn sơ, kế
đến khoảng năm 1870 được xây dựng
bằng đá miểng, mái lợp ngói. Ngôi Miếu hiện
nay hoàn toàn mới, chỉ còn lại vách đá ở sau
lưng tượng Bà là cũ. Người ta kể
lại rằng: Cách đây khoảng 200 năm, có một
toán người gặp tượng Bà trên đỉnh núi
Sam, rồi dân làng tìm cách đem về để thờ,
nhưng bao nhiêu người khiêng cũng không nổi. Có
một người tức giận đập phá
tượng Bà, làm gãy cánh tay trái, thì bị Bà trừng
phạt hộc máu chết tại chỗ. Mọi
người lúc đó hoảng sợ bỏ chạy,
một thời gian khá lâu sau, Bà đạp đồng
về kêu dân làng đem xuống núi thờ Bà, vì có lòng tín
ngưỡng, cả trăm dân làng tụ tập để
khiêng tượng Bà, nhưng không cách nào lay chuyển
được, trong lúc bối rối, Bà lại
đạp đồng cho biết phải chọn 9 cô gái
đồng trinh lên khiêng, Bà mới chịu xuống núi.
Quả thật vậy, chỉ 9 cô gái đồng trinh lên
khiêng Bà dễ dàng, khi khiêng đến nơi làm miếu Bà
hiện nay, thì tự nhiên nặng trịch, không sao nhấc
nổi nữa. Vì vậy, dân làng nghĩ rằng Bà muốn
ở tại nơi đây, nên lập miếu để
thờ Bà nhằm ngày 25 tháng 4 âm lịch, từ đó
hằng năm dân làng lấy ngày đó làm ngày lễ vía Bà. Dân chúng càng ngày càng tin tưởng
vào sự thiêng liêng và đồn rằng ai xúc phạm
đến Bà sẽ bị bẻ cổ hoặc cho hộc
máu mà chết và có một tin đồn rằng: Hồi
đó, không biết thời gian nào có một người
ăn trộm trồng chuối ngược vào ăn
cắp nữ trang của Bà, Bà bẻ cổ không
được? hay là lời đồn
phóng đại này nhằm tăng thêm sự linh thiêng
của Bà chăng? Bởi vì, các bô lão ở đây, không
thấy người nào bị Bà bẻ cổ bao giờ.
Còn việc khiêng tượng Bà từ trên đỉnh núi Sam
xuống, có người lại nói 50 thanh niên lên khiêng Bà
không nổi, nhưng 50 cô gái mới khiêng bà xuống núi
được? Không biết hư thực như thế
nào? Xin quý bậc cao minh ở đây phân giải đâu là sự
thật? Có một truyền thuyết nữa, nói rằng :
Trong thời gian Ông Thoại-Ngọc-Hầu đào kinh
Vĩnh-Tế, nơi này còn rừng hoang lại có thú dữ
thường ăn thịt nhân công và phong thổ
khắc-nghiệt làm chết người. Vì vậy, phu nhân
Tuy
nhiên, ngày nay hằng năm vào ngày 25 tháng 4 âm-lịch, dân
chúng khắp nơi về để làm lễ vía Bà thật
đông, làm nghẹt cả lối đi từ Châu
Đốc đến núi Sam, có khi phải lội bộ
xuống ruộng mà đi, nói
là đi lễ vía Bà, nhưng nhân dịp này du khách đi du
lịch để thăm viếng vui chơi luôn. Thông
thường, đêm lễ vía Bà, Ban tế-tự
người ta làm lễ túc yết và xây chầu được
tóm lược như sau : Người điều khiển
cuộc lễ này do Ông Cả và
Trở
lại tượng Bà ở núi Sam, theo tài liệu
được biết năm 1938,
Vậy tại sao
tượng Bà lại ở trên đỉnh núi Sam? Theo
truyền thuyết nói rằng : Có một hoàng-tử Ấn
Độ cùng đoàn tùy tùng đã dùng thuyền đi
phương Nam để tìm đất lập quốc,
cùng lúc ấy lại có một đoàn tăng lữ
đạo Bà
Rời
Chúa Xứ Thánh Miếu, du khách
bước qua bên trái đường để thăm chùa
Tây An và lăng mộ Ông Thoại-Ngọc-Hầu.

Quang
cảnh cửa chánh chùa Tây-An núi Sam
Được
biết ngôi chùa Tây An này là một trong những thắng
cảnh đẹp nhứt núi Sam, có lối kiến trúc
đặc biệt và nguy nga của Ấn Độ,
gồm ba ngôi lầu, chánh giữa để thờ
Phật, hai bên là lầu chuông và lầu trống. Từ
ngoài bước lên bậc thềm cửa chánh, thấy ngay
tượng Phật Quan Âm Thị-Kính đang bồng
đứa bé, trong sân chùa có hai con Voi đứng tạc
bằng xi măng, con Voi trắng có 6 ngà, con Voi đen có 2
ngà ...
Trong
chùa có thờ rất nhiều tượng các vị như
: Phật, Tiên, Thánh, Kim Cang,
(*)
Để biết thêm Đức Cố Quản
Trần-Văn-Thành hoạt-động ở Châu -
Đốc xin trích dẫn như sau : Ông Trần-Văn-Thành
làm Chánh Quản Cơ dưới triều vua Thiệu
-Trị vàTự Đức.
Bởi có công nghiệp lớn với đạo và
đời, hơn nữa Ông
và con của
(*)
Được biết trận đánh với Pháp vào ngày 20
tháng hai năm 1873 Quý Dậu, ở địa danh Hang-Tra,
thuộc ấp Bình Phú (Cồn nhỏ), làng Bình Thuận
Đông, Tổng An Lương, Quận Châu Phú Hạ,
Tỉnh Châu-Đốc nay là ấp Bình Phú, Xã Bình-Hòa (Mặc
Cần Dưng), Quận Châu-Thành, Tỉnh An-Giang. Để
nhớ công ơn Ông, nơi đây có thành lập một ngôi
trường trung-học mang tên Quản Cơ Thành.
Sau
khi thăm Chùa Tây An xong, du khách đi tiếp tới lần
lượt sẽ thấy Lăng Mộ
Toàn
lăng mộ chúng ta thấy một công trình kiến
tạo độc đáo hài hoà, nhìn ngắm từ xa chúng ta
thấy cái uy nghi, hùng vỉ rất tôn nghiêm và cổ kính
của một lăng mộ đáng được tôn vinh
Ông Thoại-Ngọc-Hầu.
Khi
bước vào đền thờ Ông
Thoại-Ngọc-Hầu, chúng ta thấy ở chính giữa
và trên cao hết là thờ bài vị Ông
Thoại-Ngọc-Hầu. Xung quanh còn bàn thờ chánh, còn có
nhiều bàn thờ khác với các bộ lư bằng đồng,
các bình chưn hương khói lên nghi ngút để thờ
những quan chức dưới quyền Ông, kế đến cái tủ
đựng áo mão can đai của Ông
Thoại-Ngọc-Hầu...
Đó là, tổng quát
về lăng mộ của một vị khai quốc công
thần triều Nguyễn của Ông
Thoại-Ngọc-Hầu đáng được tôn vinh và
kính trọng.
